|
Tóm tắt
Quan niệm của chúng tôi về quá trình sinh ung thư bao gồm sự biến đổi gây ung thư của các tế bào lành khi bị stress do màng tế bào bị kích thích quá mức và luôn ở trạng thái tiêu hao nhiều năng lượng kéo dài (hoặc tác nhân gây tiêu hao năng lượng), đi cùng với các cơ chế thích nghi về năng lượng động học của tế bào và với stress oxy hóa. Các điều kiện trước hết để sinh ung thư có thể bao gồm nhiễm khuẩn mạn tính, tia bức xạ, các chất độc (các độc tố gây kích thích như nicotin, rượu, cocain, dung môi hữu cơ, formaldehyd), các acid amin gây kích thích trong thực phẩm (ví dụ glutamat và aspartat), các hormon/estrogen, sự mẫn cảm với các yếu tố kích thích do tác động quá mức vào các thụ thể glutamat / N-methyl - D - aspartat (NMDA), và cũng còn là sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng có tính ức chế trong khẩu phần hằng ngày (như magnesi, glycin, acid folic, taurin, các acid béo nhiều dây nối đôi, lysin). Hậu quả lâu dài của các stress kể trên trước hết là làm cho màng tế bào dễ bị kích thích do phải thích ứng với hoàn cảnh, kéo theo làm tiêu hao ATP. Trong những biến đổi nói trên, thấy có hiện tượng tăng các kênh Natri đóng mở qua điện thế (VGSC), các kênh đóng mở nhờ các phối tử (ligand) và tăng hàm lượng các chất dẫn truyền thần kinh (tăng glutamat và acetylcholin). Sự điều chỉnh tích cực tính kích thích quá mức của màng tế bào sẽ làm tăng nhu cầu năng lượng, nhưng những thay đổi của tế bào để thích nghi luôn luôn không đủ thỏa mãn, nên đòi hỏi phải tăng tiêu hao ATP để điều khiển các kênh ion phụ thuộc ATPase. Những biến đổi này sẽ làm tăng tổng hợp nitric oxyd và kèm theo đó là stress oxy hóa, là hoạt hóa chất nền các metalloproteinase (MMP), tạo thành adenosin gây cảm ứng viêm, là tạo mạch và gây tổn thương các mô và suy giảm miễn dịch. Để cải thiện các stress nói trên, thì sự tăng lượng các yếu tố tăng trưởng giống insulin (IGF = insulin - like growth factor) cũng là một khuynh hướng thích nghi của cơ thể. Khi đó, tế bào có thể phát triển theo hai hướng: một là loạn sản tế bào, tạo các vết thương, vết loét, xơ hóa, và tế bào sẽ chết, hai là tế bào tăng sinh, thoái biến trở thành ung thư, di cư và di căn. Một số công trình nghiên cứu cho thấy là tế bào phát triển theo hướng nào là tùy thuộc vào nồng độ của nitric oxyd: nồng độ nitric oxyd cao sẽ gây chết tế bào, còn nồng độ nitric oxyd thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tế bào tăng sinh và tạo ung thư (bảng 1) [91].
Như chúng tôi đã nêu, ở đây các độc tố gây kích thích nội sinh và ngoại sinh đã đóng vai trò quyết định trong sinh bệnh học của ung thư: các độc tố này có thể truyền từ thế hệ tế bào này sang những thế hệ tế bào sau, thậm chí truyền tới những người con của bệnh nhân ung thư theo những cơ chế di truyền học thông thường và di truyền học biểu sinh.
Bảng 1:
Mô hình sinh ung thư
Như vậy có thể cắt nghĩa một phần nào về sự liên kết giữa ung thư theo dòng dõi di truyền với sự tiếp tục mắc ung thư qua các thế hệ [124]. Điều này chứng minh giá trị của sự khử độc như cách tiếp cận có sức mạnh để ngăn ngừa và điều trị ung thư.
Muốn điều trị có kết quả bệnh ung thư, cần phải nhằm vào một số phạm vi then chốt của rối loạn chức năng như kích thích quá mức màng tế bào, thiếu hụt ATP, sự tạo nên adenosin và chống ngộ độc. Chúng tôi đã phác thảo một số yếu tố kích thích có thể tham gia gây những thay đổi trong ung thư (bảng 2). Sự phát triển tiếp theo về các chất ức chế kênh có thể cho ta hình ảnh mới về các chất dùng để phòng ngừa và điều trị ung thư.
Phát hiện và loại trừ các cơ chế kích thích, sử dụng các chất đặc hiệu, chú ý đến môi trường, dinh dưỡng và lối sống lành mạnh có thể là con đường hữu hiệu để ngăn ngừa ung thư và các bệnh viêm và cả để ngăn ngừa nhiều rối loạn thoái hóa khác liên quan đến tuổi tác.
Bảng 2:
Các yếu tố kích thích / ức chế
|
Kích thích |
Ức chế |
|
Acid aspartic, glutamat
Glutamat / chất cảm ứng NMDA
Acetylcholin / chất chủ vận acetyl-cholin
Homocystein, L-homocysteat
Dung môi hữu cơ, aflatoxin
Độc tố của nấm, aconit
Formaldehyd, thuốc diệt côn trùng
Ngoại độc tố / benzen
Nicotin, cocain, rượu
Chiếu xạ, hư hại do tia cực tím
Nhiễm khuẩn mạn tính
Estrogen
Histamin, dopamin
Hư hại mô
Lối sống căng thẳng |
Taurin, glycin, theanin
GABA / chất chủ vận GABA
Chất đối kháng acetylcholin
Vitamin B6, vitamin D, acid folic
Magnesi
PUFA omega-3
Ức chế VGSC
Chất chủ vận VGPC
Matrine / oxymatrine / Vinpocetine
Các chất làm dịu, ví dụ Kava - Kava
Progesteron, agmatine
Melatonin
Chất chống co giật (ví dụ phenytoin)
Thư doãi, chống nhiễm độc. |
Ghi chú: Do khuôn khổ bài viết quá dài, chúng tôi chỉ trích đăng phần tóm tắt, bạn đọc nào quan tâm tìm hiểu xin liên hệ với công ty. |